Thùng rác nhựa bao nhiêu lít là đủ? Cách tính theo lượng rác mỗi ngày
📅 04/09/2026
👁 0 lượt xem

Nhiều nhà máy mua thùng rác theo cảm tính. Thấy thùng to thì mua thùng to, thấy giá tốt thì mua một lô cùng cỡ cho cả xưởng. Vài tuần sau mới lộ ra vấn đề: thùng ở khu đóng gói đầy tràn từ giữa ca, còn thùng ở dãy văn phòng thì hết tuần vẫn chưa đầy một nửa.
Chọn sai dung tích không làm hỏng cái gì ngay. Nó ngấm dần vào chi phí. Tổ vệ sinh phải đi gom nhiều lượt hơn. Rác chất quá miệng thùng rồi rơi xuống sàn. Mùi bốc lên khu sản xuất vì rác nằm lại quá lâu trong thùng quá lớn. Cuối cùng vẫn phải mua thêm thùng bù.
Bài này làm ngược lại thói quen mua hàng: đo lượng rác thật của nhà máy trước, rồi mới chốt dung tích. Đo mất khoảng một tuần, nhưng làm một lần là dùng được cho cả nhà máy.
1. Chọn sai dung tích tốn tiền ở chỗ nào
Thùng nhỏ hơn nhu cầu là lỗi dễ thấy nhất. Rác đầy tới miệng từ giữa ca, công nhân dồn thêm cho vừa, túi rách, nước rác chảy ra sàn. Tổ vệ sinh phải chạy thêm một vòng gom. Một vòng gom thêm mỗi ca, nhân cho số ngày trong năm, là khoản nhân công không nhỏ mà không ai ghi vào sổ.
Thùng lớn hơn nhu cầu thì kín tiếng hơn nhưng cũng phiền. Rác vài ngày mới đầy, nhất là rác nhà ăn, và mùi là thứ đến trước. Thùng lớn còn chiếm diện tích sàn, cản lối xe nâng, và khi đầy thì rất nặng. Riêng vỏ thùng rác nhựa 660 lít đã nặng 43 kg, loại 1100 lít nặng 52 kg. Cộng thêm rác bên trong, một người khó đẩy nổi nếu mặt sàn không phẳng.
Còn một kiểu sai nữa ít ai để ý: đúng dung tích nhưng sai kiểu thùng. Cùng là 120 lít, khu chế biến cần loại đạp chân, hành lang văn phòng hợp nắp lật, còn khu tập kết phải có bánh xe.
2. Đo lượng rác thật của nhà máy trong một tuần
Không cần cân, không cần biểu mẫu phức tạp. Chỉ cần một tờ giấy dán ở mỗi khu vực và yêu cầu tổ vệ sinh ghi lại ba thứ mỗi lần gom.
Gom lúc mấy giờ.
Lấy ra mấy túi, túi cỡ nào.
Thùng lúc đó đầy tới đâu: chưa tới nửa, khoảng nửa, gần miệng, hay đã tràn.
Ghi liên tục bảy ngày, gồm cả ngày cao điểm. Lượng rác nhà máy không đều: ngày nhập nguyên liệu thì thùng nào cũng đầy bao bì và màng co, ngày chỉ chạy máy thì ít hơn hẳn. Chốt theo ngày cao điểm, đừng chốt theo ngày trung bình, vì chỉ cần sai một ngày là rác đã nằm ngoài sàn.
Muốn biết một túi rác chiếm bao nhiêu lít, lấy đúng loại túi đang dùng, đổ rác thật vào tới mức hay buộc miệng, rồi bỏ vào một thùng đã biết dung tích và xem nó chiếm mấy phần. Cách đo thô nhưng ra con số của chính nhà máy mình, không phải số đi mượn.
3. Từ số liệu đo được ra dung tích thùng
Nguyên tắc chỉ có một câu: dung tích thùng phải chứa nổi lượng rác phát sinh giữa hai lần gom, và còn dư chỗ.
Gom một lần mỗi ca thì thùng phải chứa hết rác của một ca. Gom mỗi ngày một lần thì phải chứa hết rác của một ngày. Chỗ dư là phần đệm cho ngày cao điểm và cho thứ cồng kềnh không nén được như carton hay khay xốp.
Khi số đo nằm giữa hai cỡ thùng, có hai hướng xử lý.
Lấy cỡ lớn hơn nếu khu vực đó khó tăng số lần gom, hoặc rác hay có món cồng kềnh.
Lấy cỡ nhỏ hơn nhưng đặt hai thùng, nếu rác cần phân loại, hoặc lối đi hẹp không kê nổi thùng lớn.
Hướng thứ hai còn một cái lợi: hai thùng nhỏ đặt ở hai điểm sẽ rút ngắn quãng đường công nhân đi bỏ rác. Người ta chỉ chịu đi vài bước, xa hơn là rác bắt đầu nằm ở góc máy.
4. So sánh các mốc dung tích phổ biến
Dưới đây là các mốc dung tích thông dụng và chỗ dùng hợp với từng mốc.
8 đến 30 lít
Cỡ để trong phòng. Thùng rác y tế 20 lít làm bằng nhựa PP chính phẩm, kích thước 350 x 330 x 450 mm, đặt vừa góc hành lang hẹp. Thùng rác nhựa 30 lít đo 350 x 380 x 520 mm, thân liền khối, nắp đậy, dùng cho phòng làm việc và khu vệ sinh. Mốc này gom mỗi ngày một lần là vừa.
40 đến 70 lít
Cỡ dùng nhiều nhất ở khu vực có người qua lại. Thùng rác nhựa 60 lít đo 420 x 470 x 660 mm, có tám màu để phân loại, và lắp thêm được bánh xe khi cần kéo đi. Thùng rác 40 lít 2 ngăn đạp chân chia đôi thành hai ngăn 20 lít, kích thước 430 x 340 x 480 mm, hợp với bếp ăn và khu cần tách rác ngay từ chỗ phát sinh.
90 đến 120 lít
Mốc chuyển tiếp giữa thùng đặt cố định và thùng kéo đi. Thùng rác nhựa 100 lít đo 470 x 350 x 765 mm. Thùng rác nhựa 120 lít 2 bánh xe giữ nguyên đáy 470 x 350 mm nhưng cao 890 mm và nặng 8 kg. Nghĩa là muốn thêm 20 lít mà không tốn thêm chỗ đứng, chỉ cần đổi sang loại cao hơn. Khu bếp thì có thùng rác đạp chân 120 lít làm bằng nhựa HDPE chính phẩm pha UV, kích thước 540 x 450 x 920 mm.
240 lít
Đây là cỡ được hỏi nhiều nhất cho nhà máy. Thùng rác nhựa 240 lít 2 bánh xe đo 730 x 585 x 1030 mm, vỏ nặng 11 kg, có bảy màu. Hai bánh xe cho phép nghiêng thùng ra và kéo đi thay vì khiêng. Cỡ này hợp với xưởng sản xuất, khu đóng gói, chung cư và trường học.
360 đến 660 lít
Thùng rác nhựa 360 lít đo 830 x 700 x 1100 mm, vỏ nặng 21 kg. Thùng rác nhựa 660 lít 4 bánh xe đo 1350 x 830 x 1110 mm, vỏ nặng 43 kg, dáng chữ nhật, có bốn màu. Từ mốc này trở lên thùng đã thành điểm tập kết chứ không còn là thùng đặt trong xưởng.
1100 lít
Thùng rác nhựa 1100 lít 4 bánh xe đo 1360 x 1060 x 1370 mm, vỏ nặng 52 kg, bốn bánh xe đường kính 20 cm. Đây là cỡ đặt ở điểm tập kết cuối, nơi xe rác tới lấy. Trước khi đặt mua, cần kiểm tra hai thứ: chỗ đặt có đủ 1,36 mét chiều ngang không, và mặt sàn từ chỗ đặt ra tới đường xe vào có phẳng không.
5. Kích thước thật quan trọng không kém dung tích
Nhiều đơn hàng phải đổi lại chỉ vì thùng không lọt cửa. Dung tích là con số trên giấy, còn thứ quyết định thùng kê được hay không là ba kích thước dài, rộng, cao. Trước khi chốt đơn, nên đo bốn chỗ sau và so với kích thước thùng.
Bề rộng cửa và lối đi thùng phải đi qua khi kéo ra điểm tập kết.
Chiều cao trần chỗ đặt, nhất là dưới gầm cầu thang hoặc trong hốc tường.
Chiều ngang khoảng trống định kê, cộng phần nắp mở ra phía sau.
Lòng thang máy hàng, nếu thùng phải lên xuống tầng.
Một mẹo tiết kiệm diện tích: khi hai cỡ thùng cùng kích thước đáy, chọn cỡ lớn hơn không tốn thêm chỗ đứng vì phần thêm nằm ở chiều cao. Loại 100 lít và loại 120 lít hai bánh xe cùng đáy 470 x 350 mm, chỉ chênh chiều cao 765 mm và 890 mm.
6. Chọn dung tích theo từng khu vực trong nhà máy
Không có cỡ thùng nào dùng chung cho cả nhà máy. Chia theo khu vực rồi chọn riêng thì vừa đủ hơn và rẻ hơn.
Khu văn phòng và hành lang
Rác chủ yếu là giấy, ly nhựa, bao bì nhỏ. Lượng ít nhưng phải gọn và kín. Cỡ 30 đến 60 lít là vừa. Chỗ nhiều người qua lại thì loại nắp lật tiện hơn, đẩy nhẹ là bỏ rác được và nắp tự trở về vị trí đóng.
Nhà ăn và khu chế biến
Rác nặng, có nước, mùi lên nhanh, người thao tác thường bận cả hai tay. Nên chọn loại đạp chân để mở nắp không cần chạm tay. Cần tách rác ngay tại chỗ thì loại hai ngăn giải quyết luôn khâu phân loại mà không tốn thêm chỗ.
Xưởng sản xuất và khu đóng gói
Rác cồng kềnh: carton, màng co, dây đai, phế liệu. Loại rác này chiếm thể tích lớn hơn khối lượng, nên khu này cần thùng to hơn cảm giác ban đầu. Cỡ 120 đến 240 lít có bánh xe là hợp.
Khu tập kết chờ xe rác
Chọn theo tần suất xe rác tới lấy. Xe tới mỗi ngày thì mốc 360 đến 660 lít thường đủ. Xe cách ngày mới tới thì lên cỡ 1100 lít hoặc đặt nhiều thùng.
Phòng y tế trong nhà máy
Dùng riêng dòng thùng rác y tế, không dùng chung với rác sinh hoạt. Cỡ 8 đến 20 lít là đủ, và nên chọn màu khác hẳn để không ai bỏ nhầm.
7. Kinh nghiệm dùng thùng rác nhựa lâu hỏng
Thùng nhựa hiếm khi hỏng vì hết tuổi thọ vật liệu. Phần lớn hỏng vì dùng sai.
Đừng nén rác quá miệng thùng. Nén xong nắp không đậy được, bản lề nắp chịu lực sai hướng và gãy trước tiên. Thùng đầy tới miệng là gom, đừng chờ nén thêm.
Đừng kéo lê thùng lớn trên sàn nhám. Thùng có bánh xe thì nghiêng ra và đẩy đúng chiều bánh. Kéo lê làm mòn đáy và vẹo trục bánh.
Rửa thùng theo lịch cố định. Thân HDPE liền khối, bề mặt nhẵn nên xối nước là sạch. Để rác bám thành mảng thì phải cạo, cạo là làm xước, xước rồi lần sau bám nhanh hơn.
Che nắng nếu đặt ngoài trời. Nhựa phơi nắng lâu sẽ giòn và bạc màu. Một số dòng pha thêm UV để chịu nắng tốt hơn, nhưng đặt trong mái che vẫn bền hơn.
Đừng dùng thùng rác để chứa hóa chất. Hóa chất có dòng thùng riêng. Dùng sai thì hỏng thùng là chuyện nhỏ, rò rỉ mới là chuyện lớn.
Kiểm tra bánh xe mỗi tháng. Bánh kẹt là nguyên nhân số một khiến công nhân quay ra kéo lê thùng.
Màu thùng cũng nên tính từ đầu. Dùng màu để phân loại rác rẻ hơn và dễ nhớ hơn dán nhãn. Nếu nhà máy đã có quy ước màu thì báo trước khi đặt hàng, vì một số màu chỉ có khi đặt theo yêu cầu chứ không sẵn kho.
8. Chốt lại quy trình chọn dung tích
Chia nhà máy thành các khu vực phát sinh rác khác nhau.
Theo dõi bảy ngày, ghi số túi và giờ gom cho từng khu.
Lấy ngày cao điểm làm chuẩn, cộng thêm phần đệm cho rác cồng kềnh.
Đo cửa, lối đi và chỗ đặt, đối chiếu kích thước thật của thùng.
Chọn kiểu thùng theo khu vực: nắp lật cho hành lang, đạp chân cho bếp, bánh xe cho xưởng và khu tập kết.
Làm hết năm bước này thì dung tích không còn là phỏng đoán. Nó là số của chính nhà máy mình, và lần mua sau chỉ việc lấy ra dùng lại.
Minh Quân Plastic cung cấp thùng rác nhựa công nghiệp nhiều mốc dung tích, từ cỡ nhỏ đặt trong phòng tới cỡ 1100 lít cho điểm tập kết, giao hàng toàn quốc. Anh chị chưa chắc khu vực của mình nên dùng cỡ nào thì cứ mô tả loại rác, số người và tần suất gom, chúng tôi đối chiếu kích thước thật của từng dòng rồi đề xuất.
Gọi 0907 722 345 để được tư vấn và nhận báo giá theo số lượng. Anh chị cũng có thể xem trước thông số từng sản phẩm trong danh mục thùng rác nhựa để so kích thước với mặt bằng.
